TPHCM | Học văn bằng 2 , trung cấp thư viện thiết bị tại tphcm năm 2016

Trường Trung cấp Miền Đông thông báo tuyển sinh Trung cấp Thư viện thiết bị tại TpHCM như sau:

Trung cấp thư viện thiết bị tại TpHCM ( Hệ BV2 học thứ 7 và CN) Căn cứ Thông báo số 116/TB-BGDĐT ngày 09/3/2015 về việc đăng ký chỉ tiêu tuyển sinh năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; Căn cứ Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy ban hành kèm theo Thông tư số 03/2015/TT-BGDĐT ngày 26/02/2015 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Căn cứ Quy chế tuyển sinh trung cấp chuyên nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số 27/2014/TT-BGDĐT ngày 11/8/2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo;Khóa học Văn bằng 2 ngành Thư viện thiết bị mang tới cho học viên những kiến thức cốt lõi và kỹ năng cơ bản trong công tác thư viện và thiết bị, đáp ứng yêu cầu xã hội đối với sự phát triển quản lý thư viện và thiết bị… 

**Chỉ tiêu tuyển sinh và ngành đào tạo
– Chỉ tiêu tuyển sinh: 200
– Chuyên ngành đào tạo: Thư viện thiết bị trường học

**Khu vực tuyển sinh

Miền Trung: Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận.
– Tây Nguyên: Kontum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng
– Miền Nam: Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu, TP.HCM.  
– Miền Tây: Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, An Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, TP. Cần Thơ.

**Đối tượng tuyển sinh
– 1 Năm:  đối với học viên đã tốt nghiệp 1 văn bằng đào tạo khác từ trung cấp nghề trở lên.
– 2 Năm: Đối với học viên đã tốt nghiệp THPT
– 2 Năm 3 tháng: Đối với học viên chưa tốt nghiệp THPT
– 3 Năm: Đối với học viên tốt nghiệp THCS.

**Thời gian phát hành và nhận hồ sơ: Mở lớp thường xuyên hàng tháng.
Hồ sơ nhập học bao gồm:
– Phiếu đăng ký học.
– Bằng và học bạ hoặc bảng điểm (Bản sao)
– Sơ yếu lý lịch (có xác nhận của chính quyền địa phương)
– Bản sao công chứng Giấy Chứng minh nhân dân
– 02 ảnh chân dung cỡ 3×4

**Thời gian và loại hình đào tạo:
– Loại hình đào tạo: Chính quy
– Thời gian học: Học vào các buổi tối trong tuần hoặc Tối Thứ 7 và Chủ Nhật.

– Học phí: 4tr250/HK

**Giảm 5% học phí khi sinh viên đăng ký và đóng tiền trước ngày khai giảng

**Bằng cấp sau tốt nghiệp

– Bằng Trung cấp chính quy.

– Được học Liên thông lên bậc Cao Đẳng – Đại Học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

dang-ky-ngay

**Mọi thông tin chi tiết xin liên hệ:
VĂN PHÒNG TUYỂN SINH - CƠ SỞ THỦ ĐỨC
Cơ sở 1: Số 234 Võ Văn Ngân, P.Linh Trung, Q.Thủ Đức, TP HCM - Đối diện VINCOM Thủ Đức
Cơ sở 2: Số 20 Đường Phạm Văn Đồng, P.Linh Đông, Q.Thủ Đức, TP HCM
Điện Thoại: 0862.744.313 - 0868.44.6464 
Hotline: 01214.809.555 - 0988.44.6464 
Zalo: 09.3735.1718

GIỚI THIỆU NGÀNH THƯ VIỆN – THIẾT BỊ TRƯỜNG HỌC

Thư viện là nơi lưu trữ các ấn phẩm, tài liệu phục vụ nhu cầu đọc, tìm hiểu của nhân dân. Ngoài những chức năng nhiệm vụ chung, tùy theo mục đích, quy mô mà từng thư viện có thêm các chức năng, nhiệm vụ riêng và phục vụ đối tượng người đọc khác nhau.

Nhân viên thư viện là người quản lý, gìn giữ và phát triển vốn tài liệu để phục vụ nhu cầu đọc và tìm kiếm thông tin của mọi người. Thông tin là kho báu, là tài sản quý giá. Những người làm thư viện là những người nắm giữ chìa khóa trong tay để mở kho báu tri thức của nhân loại.

Công việc chính của nhân viên thư viện:

– Lựa chọn tài liệu, tiếp nhận các dạng (loại) tài liệu mới, phân loại tài liệu theo danh mục hoặc theo loại hình tài liệu tổ chức sắp xếp và bảo quản các loại hình tài liệu theo một trật tự nhất định.

– Xây dựng và duy trì các cơ sở dự liệu phục vụ cho mục đích tìm kiếm tài liệu dễ dàng thuận lợi.

– Tiến hành trang bị chuyên biệt cho các diện tích sử dụng của thư viện, luôn luôn giữ gìn cơ sở vật chất – kỹ thuật trong tình trạng tốt nhất.

– Tuyên truyền, giới thiệu vốn tài liệu của thư viện, hướng dẫn sử dụng thư viện, nghiên cúu nhu cầu đọc, nhu cầu tin tức để việc phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và giải trí của mọi tầng lớp nhân dân đạt hiệu quả cao nhất.

– Đề xuất các chính sách và phát triển các dịch vụ thư viện, các sản phẩm thư viện để đáp ứng mọi yêu cầu của người đọc.

– Nhân viên thư viện là cầu nối giữa sách và người đọc, tạo mối quan hệ gắn bó giữa người đọc với người đọc, và đặc biệt là người biết xây dựng hình ảnh tốt đẹp và thân thiện của thư viện đối với cộng đồng xã hội.

Điều kiện làm việc và cơ hội nghề nghiệp

Làm việc trong thư viện, bạn được sống trong môi trường tri thức – đi cùng hành trình với sách, với thế giới tài liệu đa dạng, để tổ chức, tuyên truyền, giới thiệu các nguồn tài liệu phục vụ cho mọi đối tượng người đọc.

Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và truyền thông, việc áp dụng các công nghệ hiện đại đã làm thay đổi hình thức và nội dung của hoạt động thư viện, hình thành một số dạng thư viện mới như:

– Thư viện đa phương tiện: sử dụng nhiều vật lưu trữ thông tin và tri thức khác nhau: sách, báo, băng video, đĩa compact, vi phim, phần mềm máy tính. Nhân viên thư viện giữ vai trò quan trọng trong việc tạo lập và cung cấp các dịch vụ thư viện mới nhất, tốt nhất cho người sử dụng.

– Thư viện điện tử: mô hình thư viện sử dụng chủ yếu các phương tiện điện tử (máy tính, tài liệu điện tử, các cơ sở dữ liệu) để tạo lập, lưu trữ và tìm kiếm thông tin. Trong các thư viện điện tử, nhân viên thư viện luôn đươc thông tin về những ứng dụng, phát triển mới của khoa học công nghệ để cung cấp các dịch vụ thư viện mới và tiện lợi nhất. Nhân viên thư viện, vì thế, phải làm việc với các chuyên gia tin học cũng như biết sử dụng thành thạo các mạng thông tin máy tính để đáp ứng nhu cầu tin tức, tri thức của độc giả.

– Thư viện số: trong thư viện dạng này, thông tin và tri thức được lưu trữ dưới dạng điện tử (số hóa).

Tham gia vào ngành thư viện, bạn có thể làm việc tại Cơ quan quản lý Nhà nước về thư viện như Vụ Thư viện (Bộ Văn hóa- Thông tin) hay trong các hệ thống thư viện khác nhau như: hệ thống thư viện công cộng (Thư viện Quốc gia Việt nam, thư viện các tỉnh, thành phố), thư viện các cơ quan đoàn thể, thư viện các trường học, thư viện của các viện, các trung tâm nghiên cứu khoa học, thư viện của các đơn vị vũ trang, các tổ chức chính trị – xã hội v.v…

Phẩm chất và kỹ năng cần thiết:

    – Có sức khỏe tốt, sự dẻo dai.

    – Kiên nhẫn, tỉ mỉ, cẩn thận.

    – Có khả năng tổ chức, quản lý, sắp xếp công việc. Nhạy bén, sáng tạo trong công việc.

    – Có khả năng giao tiếp tốt, sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt chuẩn

    – Có lòng nhiệt tình, say mê nghề nghiệp và yêu sách.

    – Thành thạo ngoại ngữ và tin học sẽ tạo lợi thế lớn cho bạn khi bước chân vào ngành này.

    Trung cấp Thư viện – Thiết bị trường học là ngành học mà bắt đầu từ tháng 1/2014, trường Trung cấp Miền  Đông chính thức tuyển sinh khóa đầu tiên, nhằm đáp ứng nhu cầu bổ sung cán bộ thư viện, thiết bị trường học tại các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông của TPHCM và các tỉnh miền Nam.

     Theo nhận định, đây là ngành đào tạo đang có nhu cầu tuyển dụng lớn trong xã hội, với những điều chỉnh của Chính phủ về hoàn thiện và chuyên môn hóa mọi hoạt động quản lí tại các trường học trong cả nước. Tiến đến xây dựng tất cả các trường học trong cả nước đạt trường chuẩn quốc gia và cao hơn nữa.

     Từ tháng 1/ 2014, Nhà trường bắt đầu tuyển sinh với các hệ đào tạo:

    Hệ 1 năm: dành cho đối tượng đã có bằng tốt nghiệp Trung cấp, Cao đẳng, Đại học khác ngành (học chuyển đổi), hoặc đã có bằng Sơ cấp cùng ngành từ 1 năm trở lên

    Hệ 2 năm: dành cho đối tượng học hết lớp 12 THPT hoặc Bổ túc THPT

    Hệ 3 năm: dành cho đối tượng tốt nghiệp THCS (hết lớp 9)

Ngành đào tạo trung cấp THƯ VIỆN – THIẾT BỊ TRƯỜNG HỌC là ngành học song ngành với 2 chuyên ngành:

    Trung cấp Thư viện

    Trung cấp Thiết bị trường học

  Về thời gian đào tạo vẫn linh hoạt cho tất cả đối tượng, sinh viên có thể đăng ký học trong hoặc ngoài giờ hành chính (bao gồm: buổi sáng, hoặc buổi tối, hoặc thứ 7, CN).

Chúng ta đi tìm hiểu thêm về một số thông tin liên quan tới ngành thư viện thiết bị trường học nhé 

Vai trò của thư viện trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục đại học: hướng đến một cách nhìn nhận tích cực (bản rút gọn)

 GS.TS Huỳnh Đình Chiến
Huỳnh Thị Xuân Phương
Hoàng Thị Trung Thu
Trung tâm Học liệu – Đại học Huế

1.    Tầm quan trọng của thư viện trong giáo dục

Thư viện ra đời với sứ mệnh gắn liền với tri thức. Thư viện luôn đồng hành cùng con người với sự tiến hóa của nhận thức, mở mang tầm nhìn, phát triển của khoa học, bảo tồn và phát huy văn hóa. Đối với xã hội học tập ngày nay, tầm quan trọng của thư viện chưa hề bị giảm đi. Với sự trỗi dậy mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông, thư viện vẫn chưa mất đi những giá trị nhân văn của mình, có chăng là thay đổi vai trò để thích ứng.

Nếu giờ đây phải cật vấn rằng thư viện quan trọng như thế nào với giáo dục, chẳng khác gì phải tìm lời giải cho câu hỏi “Sách quan trọng như thế nào đối với sự phát triển tri thức con người?”. Rõ ràng rằng lịch sử văn bản từ lâu đã có câu trả lời, từ khi sách còn ở dạng thô sơ nhất, đến khi được in trên bản in đầu tiên do Gutenberg, và ngày nay là những phiên bản tinh vi nhờ công nghệ. Nên chăng giờ đây chúng ta hãy nhìn những bài học kinh nghiệm mà một số nước đã trải qua.

Nhìn ra các nước với nền giáo dục tiến bộ, thư viện chưa bao giờ tách biệt với dạy và học. Sự phát triển của giáo dục luôn song hành cùng sự phát triển của ngành thông tin – thư viện (TT-TV). Nhận thức về tầm quan trọng của tri thức, họ đã không “bỏ rơi” thư viện trong chiến lược phát triển của mình. Trong nghiên cứu về ngành thư viện đại học Mỹ để rút ra những bài học kinh nghiệm, Nguyễn Huy Chương (2009) đã khẳng định rằng, để trở thành “hệ thống thư viện to lớn và hiện đại nhất trên thế giới”, điều tiên quyết là người Mỹ đã nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của tri thức, của “sách và thư viện đối với sự nghiệp giáo dục của một quốc gia”. Chính nhờ sự nhìn nhận tích cực đó, nên sự nghiệp phát triển thư viện trở thành vấn đề “có tầm vóc chính trị” – nghĩa là có sự vào cuộc của nhà nước, và việc xây dựng thư viện được “dân chủ hóa, xã hội hóa” – nghĩa là có tham gia của người dùng.

Như vậy, có thể đúc kết rằng, nhận thức ở tầm vĩ mô lẫn vi mô đều có tác động rất to lớn đến sự nghiệp phát triển của ngành thư viện. Với giới hạn của báo cáo, chúng tôi chỉ bàn luận trong phạm vi nhận thức của người dùng thư viện nói chung tại Việt Nam ở tầm vi mô.

2.    Người dùng và thư viện trong đảm bảo chất lượng giáo dục đại học: nhìn nhận lại một cách tích cực

Những định kiến do mô hình truyền thống đã để lại những hệ lụy cho thư viện ngày nay qua thái độ của người dùng: sự thờ ơ lạnh nhạt, yếu kém trong hỗ trợ đổi mới giáo dục. Đó là một hệ quả tất yếu của sự phát triển trì trệ và không xem trọng người dùng. Người dùng báo cáo muốn hướng đến chính là những nhà quản lý giáo dục, những cán bộ giảng dạy và người học nói chung. Điều này đặc biệt nghiêm trọng khi người dùng tin tiếp cận với Internet và ngày càng phụ thuộc vào đó. Tuy nhiên, đến lúc cần nhìn nhận lại một cách tích cực về vai trò của thư viện trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Cho dù bị ảnh hưởng bởi những giá trị cũ (thư viện truyền thống), hay bị tác động bởi những yếu tố mới (Internet, Google…), người dùng cũng cần khách quan xem xét nếu có bất kỳ định kiến nào dưới đây.

Internet sẽ thay thế thư viện một ngày không xa?

Cơn lốc Internet đã làm cho thế kỷ 20 trở nên đặc biệt và ngay cả các thế hệ sinh ra và lớn lên từ đó. Con người đã và đang hưởng lợi từ Internet: tìm kiếm, truy cập thông tin dễ dàng tại chỗ, hầu như là “cần gì có đó”, miễn phí, không lệ thuộc vào thư viện và không cần hỗ trợ của nhân viên thư viện… Khi microfilm ra đời, người ta cho rằng “thư viện sẽ nhỏ như cái cặp”, khi giáo dục được đưa lên chương trình truyền hình, người ta kết luận rằng “sẽ có ít giáo viên hơn trong tương lai” (Herring, 2004). Vậy nên chăng thư viện hãy nhường chỗ cho Internet?

   Herring đã chỉ ra 10 lý do mà Internet không bao giờ thay thế được thư viện, trong đó có các lý do:

Internet không phải là kho tài nguyên vô tận
Theo thống kê của Google, có đến 4.285.199.774 trang web đang hiện diện trên Internet, nhưng hơn 1 tỉ trang web là không thể truy cập được (Herring, 2004). Đây hầu hết là tài liệu có giá trị, chủ yếu là tạp chí khoa học và sách. Google cũng thống kê rằng chỉ có khoảng 8% trong số đó là tạp chí, và sách thì lại ít hơn rất nhiều. Vậy nên cơ hội để có được tài liệu có giá trị khoa học rất mong manh, cũng giống như người tìm tin có thể lấy được miễn phí công thức làm bánh flan từ trứng, nhưng dễ gì lấy được cấu tạo hóa học của protein trong lòng trắng trứng. Điều đó có nghĩa rằng thư viện có thể là nơi cung cấp tài liệu học thuật mà Internet không thể.

•    Không phải tài liệu gì cũng được chia sẻ trên Internet
Trong số 1,5 tỷ tài liệu khoa học phát hành kể từ năm 1970, chỉ khoảng 2.000 tài liệu được đưa lên mạng Internet. Cho dẫu tính chia sẻ tài nguyên được thúc đẩy nhờ Internet, nhưng đối với tài liệu học thuật thì không, bởi chỉ có 0,000133% của lượng tài liệu khoa học đã phát hành được chia sẻ trên Internet. Vậy ai sẽ trả chi phí để người dùng có thể tiếp cận khối lượng tài liệu còn lại? Đó là thư viện! Rõ rằng trong trường hợp này, thư viện không phải “ra giá” với người dùng, nhưng để có được nguồn tài liệu học thuật, thư viện phải trả một giá cao gấp nhiều lần so với phí sử dụng của bạn đọc. Người dùng có nên từ chối thư viện trong trường hợp này chăng?

•    Internet: mênh mông nhưng hời hợt
Nguồn tin trên Internet vốn không được kiểm soát và thẩm định. Với sự hỗ trợ của Web 2.0 và những phương tiện truyền thông công dân như Wiki, blog, Facebook, Youtube nở rộ, trong đó thông tin được lan truyền qua từng cá nhân, hoặc do cá nhân tạo nên, thẩm định tùy sự tình nguyện, không có sự kiểm duyệt, thiếu hẳn độ tin cậy. Nếu chỉ cần đến Internet, liệu người dạy có cảnh báo với sinh viên về tính xác thực của nguồn tin từ đó, hay hạn chế lượng tài liệu tham khảo từ Internet trong bài tập của sinh viên, hay không hề chú ý? Những sản phẩm của web thế hệ mới như Wikipedia, YouTube đã đặt người dạy vào thế “tiến thoái lưỡng nan”: nên hay không nên sử dụng hoặc cho phép sinh viên sử dụng làm tài liệu tham khảo. Vấn đề này gây tranh cãi trong giới giảng dạy, He và Jacobson (Herring, 2001) cho rằng sinh viên ngày nay, đặc biệt là thế hệ mạng (Net Generation) có xu hướng sùng bái Internet, đã cho rằng Internet có thể cung cấp những gì cần phải có; Herring (2001) đề xuất rằng giảng viên cần kiểm soát tài liệu tham khảo có nguồn gốc từ Internet của sinh viên; Chen (2009) kết luận trong nghiên cứu của mình là giảng viên không sử dụng Wikipedia làm tài liệu giảng dạy do lo ngại về tính xác thực. Thực vậy, với tình trạng sử dụng tràn lan tài liệu có nguồn gốc từ Internet, với ngòi bút của một nhà báo, Andrew Keen cảnh báo rằng các phương tiện truyền thông truyền thống (báo, truyền hình) sẽ dần bị thay thế bởi blog, YouTube hay Facebook và giá trị đích thực của một nền văn hóa sẽ dần bị xói mòn bởi “cái” gọi là “những thông tin nghiệp dư” (Huỳnh, 2008).

Rõ ràng đang có sự tranh cãi trong chất lượng nguồn tin từ Internet, vậy tại sao lại sớm chối bỏ vai trò của thư viện?

•    Đọc trên Internet thuận tiện hơn đọc trên giấy chăng?
80% người mua sách điện tử (ở Mỹ) cho rằng họ thích đọc sách dạng in nhưng giao dịch qua hình thức điện tử hơn là mua bản điện tử rồi đọc với máy tính (Herring, 2004). Đọc sách là hoạt động mang tính nhân bản của con người đồng hành với lịch sử gần 1.000 năm in ấn phát hành. Có lẽ rồi đây hoạt động này sẽ không thay đổi vì thói quen, sở thích, tính tiện dụng và được yêu thích hơn nhờ sự hỗ trợ của công nghệ.

Internet hay thư viện đã được Herring tóm lại một câu rất ý nghĩa rằng, nếu Internet là một nhân tố làm cho thư viện lỗi thời và trở nên không cần thiết thì cũng chẳng khác gì giày dép đã làm cho đôi chân trở nên thừa thãi.

Đã có Google, không cần thư viện!

Không ít người dùng nghĩ và tin vào điều này, ngay cả những giảng viên đại học. Google trở nên không thể thiếu trong cộng đồng internet. Một học sinh cấp I cũng đã biết “google” để tìm bài hát mình yêu thích. Một học giả cũng “google scholar” để tìm tài liệu nghiên cứu. Có Internet mà không có Google được ví như đánh cá đại dương mà không có ngư cụ. Mọi người đang hưởng lợi từ Google và tất nhiên sẽ có điều ngược lại.

Hoàn toàn không phủ nhận vai trò của Google, nhưng rõ ràng thư viện cũng cần thiết không kém. Hightower và Caldwell (2010) nghiên cứu thói quen sử dụng Google Scholar và cơ sở dữ liệu đa ngành Web of Science và các cở sở dữ liệu khác trên 252 nhà nghiên cứu, kết quả như sau:

  Google Scholar Web of Science
Thói quen sử dụng 64.5% 66.8%
Cơ sở dữ liệu cho kết quả tốt hơn 34% 75.9%

Người dùng thường có thói quen tìm trên Google Scholar nhiều như tìm ở cơ sở dữ liệu trả phí. Nhưng so với cơ sở dữ liệu, kết quả từ Google Scholar thường không như mong đợi. Như vậy, những cơ sở dữ liệu thường cung cấp những thông tin chuyên môn đúng với yêu cầu người dùng hơn Google Scholar.

Google là một công cụ giúp tìm kiếm thông tin trên Internet, như vậy người dùng tin phải quay trở lại vấn đề giả định ban đầu về Internet, trong đó thách thức đặt ra cho người dùng là cần biết cách đánh giá và chọn nguồn tài liệu đáng tin cậy sử dụng cho mục đích học tập và giảng dạy. Làm thế nào để biết được trang web này tin cậy hoặc không tin cậy? Nguồn tin nào nên được ưu tiên sử dụng trong nghiên cứu? Nguồn tin đó nên trích dẫn như thế nào cho đúng quy chuẩn và tránh đạo văn? Không nơi nào khác ngoài thư viện sẽ đào tạo cho người dùng những kỹ năng thông tin đó (information literacy). Vì vậy, thư viện không những không thể thiếu với người dùng tin, mà còn giữ vai trò “hoa tiêu” trong việc hướng dẫn người tìm tin. Khi so sánh thư viện với Google, có nhiều quan điểm “dung hòa” cho là “Google đã tốt, thư viện còn tốt hơn”, nhưng cũng cần nói rõ thêm rằng, Google chỉ tốt đối với những người đã nắm vững kỹ năng thông tin. Vì vậy, khó có thể phủ nhận vai trò của thư viện trong việc định hướng thông tin cho mục tiêu học tập và giảng dạy.

Nguồn tài liệu của thư viện không đáp ứng được nhu cầu của tôi

Tôi không đến thư viện vì không có tài liệu dành cho tôi: một lý do rất chính đáng. Nhưng trước khi có suy nghĩ đó, người dùng, những nhà quản lý cũng tự hỏi là mình đã góp phần chọn lọc nguồn tài liệu để đáp ứng nhu cầu chưa, đã phân bổ đủ ngân sách để bổ sung tài liệu chưa? Nguồn tài liệu là cốt lõi của thư viện, là yếu tố tạo nên đặc tính của thư viện. Đặc tính đó không chỉ được quyết định bởi nhân viên thư viện mà còn sự đóng góp của rộng rãi cộng đồng người dùng, trên phương diện nhận thức lẫn tài chính. Thực vậy, sự hợp tác trong việc chọn tài liệu giữa người dùng và thư viện chưa được đề cao, trong đó thư viện thường không nhận được sự sẵn lòng từ người dùng. Sự phong phú của tài liệu phụ thuộc vào ngân sách, nhưng nguồn tài chính hạn hẹp đã dẫn đến tình trạng “nhỏ giọt” trong việc bổ sung tài liệu mới, trong khi lượng tài liệu in ấn và điện tử phát hành hằng năm lại tăng theo cấp số nhân. Hệ quả là thư viện không đáp ứng nhu cầu người dùng, và bộ ba “người dùng”, “nhà quản lý” và “thư viện” lại rơi vào vòng luẩn quẩn “cung cầu bất cập”.

Dựa vào mối quan hệ cá nhân, khả năng tìm kiếm của tôi là đủ rồi!

Nhiều giảng viên cho rằng mình có thể tự tìm lấy tài liệu nhờ vào mối quan hệ cá nhân (email, thư ngỏ để xin tài liệu), chia sẻ tài liệu trong đồng nghiệp, hiệp hội và có đủ khả năng tự tìm kiếm. Người dùng có khả năng tự tìm lấy tài liệu mình cần, bằng cách này hay cách khác, là một dấu hiệu đáng mừng, vì suy đến cùng, mục tiêu của thư viện là giúp cho người dùng ít phụ thuộc vào thư viện. Nhưng khi làm nghiên cứu, với một danh sách dài những tài liệu tham khảo cần lấy toàn văn, người tìm không thể email đến từng cá nhân để xin từng bài báo được báo giá khoảng 30USD trên cơ sở dữ liệu. Biết đâu thư viện của anh đã có đăng ký mua bài báo đó và có thể cung cấp khi anh yêu cầu.

Sinh viên chỉ cần đọc tài liệu của tôi cung cấp là đã quá đủ rồi!

Điều này may ra có thể đúng với hình ảnh “ông đồ gõ đầu trẻ” trong giáo dục thời phong kiến, đây là quan niệm sai lầm trong xã hội thông tin ngày nay. Nếu đúng thì sinh viên đã không cần đến thư viện, nhưng rồi thư viện nào cũng có số lượng bạn đọc chiếm ưu thế là sinh viên. Ngược lại, giảng viên cần khuyến khích sinh viên đến thư viện để nghiên cứu thêm tài liệu, hoặc cung cấp danh sách tài liệu đọc thêm có ở thư viện cho sinh viên, thậm chí có thể yêu cầu thư viện bổ sung những tài liệu đó.

Nhân viên thư viện không giúp được gì vì không biết gì về chuyên môn của tôi

Không biết về chuyên môn của người dùng là hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, có cần phải đào tạo một nhân viện thư viện thông thạo hết tất cả các chuyên ngành không? Nếu có thì người đó sẽ không là một thư viện viên, mà là một nhà bác học. Vấn đề còn lại là liệu nhân viên có giúp được gì không? Nhân viên thư viện không có chuyên môn về y học, nhưng có khả năng chỉ dẫn người dùng đến nguồn thông tin y học, cung cấp cho người dùng gói thông tin theo chủ đề về y học. Trở lại cách ví von về Internet và Google, người đánh bắt cá (người tìm tin) trên đại dương (Internet) nhờ ngư cụ (Google), nhân viên thư viện lúc này sẽ là hoa tiêu hướng người đánh bắt cá ở đâu cho được nhiều cá và được nhiều cá ngon (đánh giá, chọn lọc nguồn tin đáng tin cậy).

Nhân viên thư viện là người trợ giảng: một điều không tưởng

Điều này hoàn toàn không xa lạ ở các môi trường đại học nước ngoài. Nhân viện thư viện là người cộng tác với trường, giảng viên trong việc soạn chương trình và giáo án giảng dạy, trong đó đặt vai trò người học làm trọng tâm (Julien và Given, 2003). Stahl (1997) và Larson (1998) cho rằng thư viện cần phát huy hơn nữa vai trò của mình trong việc hỗ trợ đội ngũ giảng viên soạn bài tập cho mỗi môn học sao cho phù hợp với nguồn tài liệu của thư viện (được trích dẫn bởi Julien và Given, 2003). Doskatch (2003) cho rằng nhân viên thư viện cần tham gia vào hội đồng soạn thảo chương trình giảng dạy của trường như một thành viên, đồng thời kết hợp với các khoa thiết kế các bài tập cho từng môn học để định hướng cho sinh viên học tập suốt đời. Vai trò của nhân viên không còn bị giới hạn bởi tên gọi “thư viện” mà còn nối dài đến các trường và tham gia vào quá trình dạy và học. Nhân viên thư viện có thể trở thành người giảng dạy trong trường hợp môn học đó yêu cầu. Ở môi trường đại học Việt Nam, điều này còn quá xa lạ và khó chấp nhận trong thực tế lẫn nhận thức con người. Xu hướng đúng đã được minh chứng, vậy ít nhất chúng ta cũng cần công nhận thực tế này để có những bước phát triển phù hợp, trong đó cần có sự tham gia tích cực của người dạy lẫn nhân viên thư viện. Nếu không có mối liên kết nào giữa thư viện và trường học thì giáo dục chưa thực sự đổi mới, người học vẫn chưa được xem là trọng tâm, và mục tiêu học tập suốt đời khó mà đạt được.

3.    Đề xuất

Để thư viện hỗ trợ tốt hơn cho sự nghiệp đổi mới phương pháp dạy và học, cần nhìn nhận tích cực hơn về vai trò của thư viện. Điều này cần có sự tham gia của những người quản lý, người dạy và học, và cả nhân viên thư viện.

Tăng cường liên kết chặt chẽ giữa thư viện với trường, khoa

Vấn đề này được xem là tất yếu. Chúng ta nhận thấy rằng không ai có thể phát triển một cách cô lập, không có mối liên kết với các yếu tố bên ngoài. Môi trường giáo dục cũng không nằm ngoài quy luật đó (xem Hình 1). Trong quá trình hợp tác, mỗi bên sẽ có những nhìn nhận đúng đắn hơn về vai trò của mỗi bên.

thư viện thiết bị trường học

Hình 1: Mô hình mối quan hệ giữa thư viện với trường học

Người dạy cũng cần tham gia nhiều hơn đến các hoạt động thư viện như góp ý, đề xuất bổ sung tài liệu, tận dụng nguồn tài liệu, dịch vụ của thư viện, khuyến khích sinh viên sử dụng tài liệu của thư viện để đạt được những kết quả sau: hoàn thiện bộ sưu tập, hiểu rõ hơn về thư viện của trường, có cái nhìn mới về thư viện, sinh viên có thêm kiến thức ngoài giáo trình được quy định.

Những người quản lý cần nhận thấy vai trò điều tiết, thúc đẩy trong việc tăng cường hợp tác chặt chẽ của người dùng và thư viện, cần nhìn nhận sự phát triển thư viện song hành với sự phát triển của trường và nâng cao chất lượng giáo dục. Nói cách khác, trường cần xem xét và đầu tư phát triển thư viện trên nhiều mặt: con người, tài liệu, hạ tầng công nghệ thông tin và kiến trúc.

Nhân viên thư viện muốn có sự nhìn nhận đúng đắn của người dùng về mình, trước hết nhân viên phải hoàn thiện chính mình, không ngừng bồi dưỡng nghiện vụ, chuyên ngành thông tin mà mình phụ trách, làm tốt các dịch vụ thư viện, xóa bỏ định kiến rằng giảng viên không xem trọng nghề thư viện.

Thư viện và người dùng cần có thêm những diễn đàn trao đổi nghiệp vụ, giao lưu để hiểu thêm về nhau như tổ chức hội thảo, tập huấn, buổi nói chuyện, trong đó nhân viên thư viện phát huy vai trò hướng dẫn thông tin của mình, còn người dạy giúp nhân viên có thêm kiến thức chuyên môn mà họ phụ trách.

4.    Kết luận

Hệ thống thư viện sẽ góp phần không nhỏ vào công cuộc đổi mới giáo dục. Hệ thống này được đầu tư phát triển hay không phụ thuộc rất lớn vào sự công nhận của những nhà quản lý và người dùng. Thư viện ngày nay vẫn còn bị nhiều định kiến kìm hãm sự phát triển. Hơn bao giờ hết, thư viện cần đến bạn đọc và cũng có điều ngược lại. Xu hướng phát triển của thư viện là giúp bạn đọc ít phụ thuộc vào thư viện, giảm công sức đi lại của bạn đọc, khi đó người dùng đã nắm vững kỹ năng thông tin để tự mình giúp mình, và các dịch vụ hầu như được cung cấp từ xa. Nhưng để đến được bước tiến đó, bạn đọc trước hết hãy đến thư viện. Nếu dùng văn chương để nói đến thư viện, thi hào Goethe đã nói “Đến thư viện như đi vào một nơi phô diễn sự giàu sang tột đỉnh, ở đó lãi suất hậu hĩnh đang được thanh toán một cách thầm lặng”. Người hưởng lãi suất trực tiếp chính là người dùng, nhưng nếu nhìn rộng hơn, trên phương diện giáo dục, lãi suất hậu hĩnh đó là của tất cả chúng ta.

5.    Tài liệu tham khảo *

Chen, H. (2010). The perspectives of higher education faculty on Wikipedia. The Electronic Libraries, 28(3), 361-372.
Doskatsch, I. (2003). Perceptions and perplexities of the faculty-librarian partnership: an Australian perspective. Reference Service Review, 31(2), 111-121.
Herring, M. Y. (2004). 10 điều Internet không thể thay thế cho thư viện [tài liệu dịch]. Bản tin Thư viện – Công nghệ Thông tin, Tháng 4, 27-30.
Herring, S. D. (2001). Facultiy acceptance of the world wide web for student research. College & Research Libraries, May, 251-258.
Hightower, H., &Caldwell, C. (2010). Shifting Sands: Science Researchers on Google Scholar, Web of Science, and PubMed, with Implications for Library Collections Budgets. Truy cập ngày 22/11, 2011, từ http://www.istl.org/10-fall/refereed3.html.
Huỳnh, Đ. C., Huỳnh, T. X. P., & Hoàng, T. T. T. (2011). Giữ chân nhân viên thư viện thế hệ mới: một thách thức trong thời kỳ hội nhập. Báo cáo trình bày tại hội thảo Ngành Thông tin – Thư viện Việt Nam: đổi mới và hội nhập quốc tế. Hà Nội.
Huỳnh, T. X. P. (2008). Thuật ngữ Thư viện: Digital Narcissism. Bản tin các Trung tâm Học liệu, Số 2. Truy cập ngày 22/11, 2011, từhttp://www.lrc-hueuni.edu.vn/bantin/thuatngu/thuatngu.html
Julien, H., & Given, M. L. (2003). Faculty-librarian relationship in the information literacy context: a content analysis of librarians’ expressed attitudes and experiences. CAIS/ACSI, (?), 169-185.
Nguyễn, H. C. (2009). Những bài học kinh nghiệm rút ra từ lịch sử thư viện đại học Hoa Kỳ. Thông tin tư liệu, 3.
Trần, T. Q. (2007). Đào tạo nguồn nhân lực ngành thông tin – thư viện ở Việt Nam 50 năm nhìn lại. Thư viện Việt Nam, 1, 11-16.
* Tài liệu tham khảo được trích dẫn theo kiểu APA (American Psychological Association).

MUỐN HỌC NGÀNH THƯ VIỆN THÔNG TIN?

* Em không biết ngành thư viện thông tin học như thế nào, chuyên sâu về vấn đề gì, sau khi ra trường có thể làm việc ở những nơi nào? Những năm trước điểm chuẩn của ngành này bao nhiêu và trường nào tuyển sinh? (Đặng Như Hảo, nhuhao102@…)

– Chương trình đào tạo ngành thư viện – thông tin nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về khoa học thư viện – thông tin như: xây dựng nguồn lực thông tin, xử lý thông tin, quản trị thông tin, khai thác và cung cấp thông tin cho mọi đối tượng có nhu cầu về các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học – công nghệ… Cử nhân khoa học thư viện – thông tin đủ khả năng làm công tác nghiên cứu, giảng dạy về ngành thư viện – thông tin học hoặc làm việc trực tiếp tại thư viện các tỉnh thành, các trung tâm thông tin, thư viện các trường ĐH, CĐ hoặc các cơ quan khác có liên quan đến công tác thư viện và thông tin khoa học – công nghệ; có thể tiếp tục học chương trình sau ĐH theo đúng chuyên ngành. Điểm chuẩn năm 2007 ngành này của Trường ĐH KHXH&NV (ĐH Quốc gia TP.HCM) khối C-14, khối D1-14,5; ĐH Cần Thơ: khối D1-13; ĐH Văn hóa TP.HCM: khối C-14, khối D1-13; ĐH KHXH&NV (ĐH Quốc gia Hà Nội): khối C và D1-18; ĐH Văn hóa Hà Nội: khối C-16, khối D1-13… Bạn cũng có thể học ngành này ở hệ CĐ tại các trường: ĐH Văn hóa TP.HCM, CĐ Sư phạm Trung ương, CĐ Văn thư lưu trữ Trung ương 1, CĐ Văn hóa nghệ thuật và Du lịch Nha Trang, các trường CĐ Văn hóa nghệ thuật và CĐ Sư phạm địa phương.

* Ngành quản trị du lịch của Trường ĐH Kinh tế TP.HCM học xong ra trường sẽ làm việc gì trong lĩnh vực du lịch? Em muốn biết chương trình đào tạo 4 năm của ngành này thì cụ thể có những môn nào và bao nhiêu đơn vị học trình? (nguyenhuuson_sp@…)

– Ngành quản trị du lịch đào tạo cử nhân kinh tế có kiến thức nền tảng về quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh, đồng thời có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực kinh tế du lịch, quản trị kinh doanh du lịch và khách sạn, cũng như trình độ thông thạo ngoại ngữ. Mục tiêu của ngành là đào tạo sinh viên tốt nghiệp có khả năng làm việc trong hai lĩnh vực cơ bản của du lịch là lữ hành và khách sạn – nhà hàng. Yêu cầu cụ thể của chương trình đào tạo là giúp sinh viên: am hiểu các mô hình quản trị trong du lịch và cấu thành nghiệp vụ của mỗi lĩnh vực quản trị; nhận dạng các hình thức tổ chức, đối tượng tham gia trong lĩnh vực du lịch; phân khúc thị trường du lịch, hiểu nhu cầu và các hình thức cung cấp trong du lịch; phân tích tập quán, thông lệ và lịch sử hình thành chúng; biết điều tra, nghiên cứu thị trường, đánh giá và đo lường các quyết định… Sau khi tốt nghiệp sinh viên có thể công tác tại các doanh nghiệp du lịch (hãng du lịch và lữ hành, khách sạn, nhà hàng, khu du lịch và vui chơi giải trí liên hợp…), các cơ quan quản lý du lịch nhà nước (Tổng cục Du lịch, Sở Du lịch…) và các tổ chức đào tạo, nghiên cứu du lịch. Khối lượng kiến thức tối thiểu và thời gian đào tạo ngành này gồm180 đơn vị học trình (ĐVHT), chưa kể phẩn giáo dục thể chất (5 ĐVHT) và giáo dục quốc phòng (165 tiết). Ngoài kiến thức giáo dục đại cương, kiến thức cơ sở khối ngành, kiến thức cơ sở ngành, kiến thức ngành, kiến thức bổ trợ là 156 ĐVHT, thì ở kiến thức chuyên ngành có 24 ĐVHT. Theo đó, sinh viên được học kiến thức chuyên ngành quản trị du lịch, quản trị khách sạn, quản trị nhà hàng, quản trị hãng lữ hành, quản trị du lịch sự kiện và hội nghị, quản trị hãng vận chuyển, khu du lịch và du lịch sinh thái, marketing du lịch.

* Năm ngoái em thi trượt ĐH, vậy năm nay em muốn dự thi tiếp thì có nhất thiết phải về trường em để nộp hồ sơ không? Em ở Phú Yên nhưng em đang học ở TP.HCM, em không muốn thi ở cụm Qui Nhơn mà em muốn thi ở TP.HCM, vậy em phải làm như thế nào? Hệ CĐ của Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM năm ngoái chỉ xét tuyển không thi thì chắc có lẽ năm nay cũng thế? (Lê Hùng Sơn, hungson200765@…)

– Trường THPT bạn học trước đây không còn nhận hồ sơ đăng ký dự thi (ĐKDT) của bạn nữa. Bạn là thí sinh tự do nên không nhất thiết phải nộp hồ sơ đúng nơi tốt nghiệp THPT. Bạn mua hồ sơ ở đâu nên nộp hồ sơ ở đó. Bạn đang ôn thi tại TP.HCM, bạn có thể mua và nộp hồ sơ tại Sở GD-ĐT TP.HCM (47 Lý Tự Trọng, quận 1) nhưng vẫn phải về địa phương chứng nhận lên hồ sơ (nếu không về quê được, sau khi điền đầy đủ hồ sơ, bạn gửi về nhà nhờ người thân đi chứng nhận giúp). Thí sinh tự do, thí sinh vãng lai nộp hồ sơ ĐKDT tại các điểm thu nhận hồ sơ của sở GD-ĐT, từ ngày 10-3 đến 10-4-2008. Sau thời hạn này, từ ngày 11-4 đến 17-4-2008, thí sinh chưa nộp hồ sơ tại Sở GD-ĐT thì nộp hồ sơ trực tiếp tại các trường ĐH, CĐ có tổ chức thi. Nếu bạn muốn dự thi vào trường tại TP.HCM, không phải dự thi tại cụm thi Qui Nhơn, thì ở mục 14 trong hồ sơ ĐKDT bạn bỏ trống. Làm đúng như vậy thì bạn sẽ được dự thi tại TP.HCM. Hệ CĐ của Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM không tổ chức thi tuyển, mà lấy kết quả thi ĐH của những thí sinh đã dự thi khối A vào các trường ĐH trong cả nước theo đề thi chung của Bộ GD-ĐT để xét tuyển, trên cơ sở hồ sơ đăng ký xét tuyển của thí sinh.

* Em định thi vào ngành ngữ văn Anh của Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM, có thể cho em biết nếu học ngành sau khi tốt nghiệp có thể làm những công việc gì? Ngành này có nhân hệ số không? Điểm chuẩn hằng năm bao nhiêu? (Nguyễn Thị Thanh Trúc, the_best_rain7@…)

– Trường ĐH KHXH&NV (ĐH Quốc gia TP.HCM) không nhân hệ số khi xét tuyển vào các ngành, kể cả ngành ngoại ngữ. Ngành ngữ văn Anh đào tạo cử nhân kiến thức cơ bản về văn hóa, văn học và sử dụng thành thạo tiếng Anh như một công cụ giao tiếp xã hội. Hiện khoa có ba bộ môn chính là bộ môn Ngữ học – Biên phiên dịch, bộ môn Văn hóa – Văn học, bộ môn Thực hành tiếng. Sau khi tốt nghiệp ngành này có thể giảng dạy ở các trường; làm công tác nghiên cứu, biên dịch, phiên dịch cho các tổ chức khoa học kỹ thuật, kinh tế, xã hội, các viện nghiên cứu. Việc làm sau khi ra trường phụ thuộc rất nhiều vào kết quả học tập, khả năng, năng lực… của chính bạn. Năm 2007, điểm chuẩn ngành này là 16,5 điểm; năm 2006 là 19 điểm; năm 2005 là 18 điểm.

ĐỘI NGŨ VIÊN CHỨC LÀM CÔNG TÁC THIẾT BỊ DẠY HỌC NHÓM NGUỒN NHÂN LỰC GIÁO DỤC CẦN ĐƯỢC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN

                                                                                                NGƯT. ThS. Chu Mạnh Nguyên

Tổng Thư ký Hiệp hội TBGD Việt Nam

Giám đốc Trung tâm Đào tạo- Bồi dưỡng

I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

1. Giáo dục và đào tạo Việt nam đang thực hiện quá trình đổi mới theo tinh thần Nghị quyết 40 của Quốc hội Khoá X; thực hiện Chương trình hành động Quốc gia Giáo dục cho mọi người giai đoạn 2003- 2015 và Chỉ thị 40 của Ban Bí thư trung ương ĐCS Việt Nam nhằm từng bước nâng cao chất lượng giáo dục và xây dựng một nền giáo dục hiệu quả.

Đặc biệt, ngày 13/6/2012 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 711/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2011- 2020”; đây là cơ sở pháp lý mới nhất, quan trọng nhất định hướng hoạt động cho các cơ quan quản lý, cho các cơ sở giáo dục trong việc thực hiện quá trình “đổi mới căn bản và toàn diện” nền giáo dục Việt Nam.

Giá trị cốt lõi của quá trình “đổi mới căn bản và toàn diện” nền giáo dục Việt Nam là đảm bảo cho thế hệ trẻ Việt Nam được hưởng một nền giáo dục công bằng và có chất lượng. Quá trình đó lấy “đổi mới phương pháp dạy học” làm then chốt. Công tác thiết bị dạy học là một thành tố có ý nghĩa phương pháp luận của “đổi mới phương pháp dạy học”.

Ở tầm nhìn vĩ mô, công tác TBDH có 4 hoạt động chính, có thể mô tả như sau:

TT

Hoạt động

Trách nhiệm

1

Định hướng, chỉ đạo, hướng dẫn  công tác TBDH – Bộ GD&ĐT

– Các Sở GD&ĐT

2

Sản xuất và cung ứng hệ thống TBDH Các doanh nghiệp sản xuất, cung ứng TBDH

3

Mua sắm TBDH.

Xây dựng Phòng TBDH, Phòng thí nghiệm, Phòng học bộ môn ở các cơ sở giáo dục

– Ngân sách Nhà nước trung ương

– Ngân sách nhà nước địa phương

– Nguồn lực từ công tác xã hội hoá các hoạt động giáo dục

4

Xây dựng và phát triển đội ngũ “viên chức làm công tác TBDH” Các cơ quan QLNN, các cơ quan QLGD, các cơ sở GD&ĐT

 

Nếu không có đội ngũ “viên chức làm công tác TBDH” có đủ năng lực, được chuyên nghiệp hoá thì các hoạt động 1, 2, 3 dù có làm tốt đến đâu cũng đều trở nên vô nghĩa.

Người giáo viên cần sử dụng tốt TBDH để dạy tốt 1 môn học; còn người “viên chức làm công tác TBDH” cần hiểu biết (kể cả sử dụng) hệ thống TBDH của nhiều môn học để phục vụ có hiệu quả cho các giáo viên bộ môn khi lên lớp; hơn nữa họ còn có vai trò của người quản lý trực tiếp toàn bộ hệ thống TBDH trong toàn trường. Vì vậy không thể quan niệm họ là vai phụ của quá trình dạy học.

Trong phạm vi bài viết này, chỉ xin trao đổi về vấn đề “Xây dựng và phát triển đội ngũ viên chức làm công tác TBDH”.

2. Như chúng ta đều biết: Thiết bị dạy học (TBDH) hay đồ dùng dạy học (ĐDDH) là một bộ phận của cơ sở vật chất trường học, bao gồm những đối tượng vật chất được thiết kế sư phạm mà người giáo viên (GV) sử dụng để điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh (HS); đồng thời chúng là nguồn tri thức, là phương tiện giúp HS lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng, đảm bảo cho việc thực hiện mục tiêu dạy học.

Đặc biệt TBDH có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc là ở chỗ: nếu sử dụng TBDH có hiệu quả sẽ góp phần quan trọng nhất không những trong việc hình thành tư duy khoa học cho HS mà còn góp phần phát triển kỹ năng nghề nghiệp của chính người GV.

Cùng với Sách giáo khoa, Thiết bị dạy học là phương tiện lao động sư phạm không thể thiếu để GV và HS phối hợp tổ chức các hoạt động dạy học và tiến hành một cách hợp lý, có hiệu quả quá trình dạy học ở các môn học, cấp học.

Cách đây khoảng 30 năm, GS. TS. Hồ Ngọc Đại, trong một cuốn sách của mình, Ông đã viết: Thiết bị dạy học là “bộ đồ nghề của người giáo viên”.

Năm 1999, tại Dakar (Băng la đét), Unesco khuyến cáo: “Nói nâng cao chất lượng dạy học mà không làm tốt công tác TBDH thì chỉ là những lời nói xuông”.

Ngày nay, phải hiểu quá trình dạy học lấy các hoạt động dạy học- các tình huống dạy học làm trung tâm. Trong một giờ học, GV và HS hoạt động, tương tác với nhau trên cơ sở các hoạt động dạy học- các tình huống dạy học được lựa chọn chuẩn xác để hướng tới mục tiêu bài học. Sách giáo khoa và Thiết bị dạy học là nguồn lực để tổ chức thực hiện các hoạt động dạy học- các tình huống dạy học.

3. Những năm qua nhà nước trung ương và các địa phương đã đầu tư lượng kinh phí rất lớn xây dựng hệ thống phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn với nhiều trang thiết bị hiện đại cho các trường trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp. hệ thống giáo dục phổ thông và hệ thống giáo dục mầm non với hy vọng nâng cao chất lượng giáo dục, chất lượng đào tạo.

Nói riêng ở giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông, cùng với lộ trình đổi mới Chương trình và sách giáo khoa phổ thông, Chương trình giáo dục mầm non mới; Bộ GD&ĐT đã ban hành các Thông tư về hệ thống “Danh mục TBDH tối thiểu” cho giáo dục phổ thông và “Danh mục thiết bị, đồ dùng, đồ chơi tối thiểu” cho giáo dục mầm non (trước hết là phục vụ cho phổ cập mẫu giáo 5 tuổi); Kinh phí đầu tư là vô cùng lớn.

Trong khi đó các nhà trường trong hệ thống giáo dục phổ thông tuy đã có cố gắng, nhưng việc phát huy hiệu quả (giáo dục và kinh tế) của hệ thống TBDH còn hết sức hạn chế. Một trong những nguyên nhân chính là các trường chưa có “viên chức làm công tác TBDH” có năng lực, được đào tạo một cách chuyên nghiệp. Về nhân sự, do lịch sử của công tác tổ chức cán bộ để lại, ở nhiều trường phổ thông “viên chức làm công tác TBDH” còn chưa được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ ở mức tối thiểu.

Trong quá trình đổi mới giáo dục phổ thông vừa qua, nhất là trong quá trình thực hiện “Chiến lược phát triển giáo dục 2011- 2020”, nhằm “đổi mới căn bản và toàn diện” nền giáo dục Việt Nam; vấn đề đổi mới phương pháp dạy học là một thành tố có ý nghĩa quyết định của cả quá trình. Đổi mới phương páhp dạy học sẽ không thể thành công nếu thiếu hệ thống TBDH có chất lượng và thiếu đội ngũ “viên chức làm công tác TBDH ở các cơ sở giáo dục và đào tạo”.

Đây đang là vấn đề bức xúc, nóng bỏng của ngành GD&ĐT đang được Bộ GD&ĐT đặc biệt quan tâm.

II. MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚMG CHỈ ĐẠO VÀ KẾT QUẢ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO- BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ VIÊN CHỨC LÀM CÔNG TÁC TBDH Ở CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

1. Các văn bản quản lý nhà nước

1.1. Thông tư liên Bộ số 35/TTLB-BGDĐT-BNV, ngày 23/8/2006: Hướng dẫn định mức biên chế viên chức ở các cơ sở giáo dục phổ thông công lập. Theo Thông tư này “viên chức làm công tác TBDH ở các cơ sở giáo dục phổ thông” đã được định biên, là viên chức không thể thiếu ở các trường học.

1.2. Văn bản số 4089/BGD ĐT-TCCB, ngày 19/4/2007 Quy định về tiêu chuẩn, tuyển dụng và bồi dưỡng đội ngũ “viên chức làm công tác TBDH ở các cơ sở giáo dục phổ thông”.

1.3. Quyết định số 74/2007/QĐ-BGDĐT, ngày 05/12/2007 về việc ban hành “Chương trình bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho viên chức làm công tác TBDH ở các cơ sở giáo dục phổ thông.

2. Để có thể làm tốt công tác tuyển sinh đào tạo- bồi dưỡng cần nắm được và tuyên truyền, thông báo rộng rãi thêm một số văn bản quản lý nhà nước sau đây:

– Quyết định số 78/2004?QĐ-BNV, ngày 03/11/2004 về việc ban hành “Danh mục các ngạch công chức viên chức”,

– Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ ban hành “Chế độ tiền lương”,

– Thông tư số 07-BNV về “Chế độ phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với cán bộ, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập”.

Để mọi người thấy được rằng:

– Người có bằng TCCN, học chương trình bồi dưỡng 152 tiết, sau khi được cấp Chứng chỉ có đủ điều kiện được xét tuyển dụng (hoặc thi tuyển) vào biên chế nhà nước ngạch Kỹ thuật viên (tại các trường Tiểu học- mã ngạch viên chức 13.096),

– Người có bằng CĐ, học chương trình bồi dưỡng 192 tiết, sau khi được cấp Chứng chỉ có đủ điều kiện được xét tuyển dụng (hoặc thi tuyển) vào biên chế nhà nước ngạch Kỹ thuật viên (tại các trường THCS- mã ngạch viên chức 13a.095),

– Người có bằng ĐH, học chương trình bồi dưỡng 192 tiết, sau khi được cấp Chứng chỉ có đủ điều kiện được xét tuyển dụng (hoặc thi tuyển) vào biên chế nhà nước ngạch Kỹ thuật viên (tại các trường THPT- mã ngạch viên chức 13.095),

Như vậy, nếu học bồi dưỡng và có Chứng chỉ cơ hội việc làm được rộng mở hơn.

3. Theo Thông tư 35, chỉ tính đối với hệ thống các trường phổ thông công lập trong cả nước cần có khoảng 30.000 “viên chức làm công tác TBDH” (tính toán, tổng hợp từ nguồn Thống kê GD&ĐT 2010- Bộ GD&ĐT),

3.1. Vài nét hiện trạng công tác quản lý đội ngũ Viên chức làm công tác TBDH tại các địa phương:

– Hiện nay nhóm nguồn nhân lực này của hệ thống GDQD về cơ bản chưa được đào tạo, bồi dưỡng một cách nghiêm túc, chuyên nghiệp. Điều này ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho định hướng “đổi mới căn bản và toàn diện” của Ngành.

– Nhìn chung các cơ quan QLGD cấp trung gian và CBQL cơ sở giáo dục chưa nhận thức đầy đủ, nhận thức chuyển biến còn quá chậm trong công tác xây dựng và phát triển nhóm nguồn nhân lực là Viên chức làm công tác TBDH.

– Nhìn chung các cơ quan QLGD cấp trung gian (Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT) rất lúng túng, thiếu định hướng trong việc xây dựng kế hoạch hình thành và phát triển nhóm nguồn nhân lực là Viên chức làm công tác TBDH. Vì vậy việc chuẩn hoá cho số Viên chức TBDH hiện có tại các cơ sở giáo dục rất chậm. Có rất ít các cơ quan QLGD chủ động tổ chức các lớp bồi dưỡng chuẩn hoá Viên chức TBDH.

– Những người đi học bồi dưỡng hiện nay chủ yếu do nhu cầu cá nhân trong việc đăng ký thi tuyển, xét tuyển để được tuyển dụng làm Viên chức, nên họ chỉ đăng ký học mỗi khi có đợt tuyển dụng của các địa phương.

– Theo ý kiến từ các cơ quan quản lý giáo dục địa phương, số viên chức đã tuyển dụng trước đây, do lịch sử để lại, hầu hết tuổi đời cao và về chuyên môn, nghiệp vụ không đạt chuẩn; số viên chức tuyển dụng mới được theo chuẩn chỉ  mới tiến hành được 3 năm nay và nhiều nơi không có nguồn để tuyển.

Phân tích ý kiến của các cơ quan QLGD và CBQL cơ sở giáo dục, ta thấy:

– Giáo viên các bậc học cấp học, ngành học thực sự có nhu cầu về kiến thức và kỹ năng sử dụng, khai thác bộ TBDH mà nhà trường đã được trang bị và các thiết bị dạy học hiện đại nhằm nâng cao hiệu quả của hệ thống TBDH hiện có góp phần nâng cao chất lượng dạy học.

– Các trường phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân rất cần có “viên chức làm công tác TBDH” được đào tạo, bồi dưỡng một cách chuyên nghiệp, nhu cầu này thực sự cấp thiết, thường xuyên và rộng lớn của toàn hệ thống.

Nếu thoả mãn được 2 nhu cầu cơ bản trên, ta sẽ đạt mục tiêu kép: Vừa nâng cao hiệu quả kinh tế từ hệ thống TBDH đã được trang bị, vừa nâng cao được chất lượng dạy học.

3.2. Thử xem khả năng đáp ứng hiện nay:

a. Về bồi dưỡng:

– Hiện nay có 21 cơ sở đào tạo trong cả nước được Bộ GD&ĐT giao nhiệm vụ “bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cấp Chứng chỉ cho “viên chức làm công tác TBDH ở cơ sở giáo dục phổ thông”. Các cơ sở đào tạo nói trên bắt đầu tổ chức bồi dưỡng từ 2008, theo Chương trình do Bộ GD&ĐT ban hành kèm theo Quiyết định số 74/2007/QĐ-BGDĐT.

– Số lượng người được bồi dưỡng trong 5 năm qua, theo tổng hợp trong Báo cáo của Cục Nhà giáo và CBQL cơ sở giáo dục là rất khiêm tốn.

b. Về đào tạo:

– Trước đây, một số Trường CĐSP địa phương được Bộ GD&ĐT cho phép đào tạo trình độ TCCN ngành Thư viện- Thiết bị trường học, không đào tạo chuyên ngành Thiết bị trường học. thời lượng đào tạo về Thư viện thường chiếm 70% toàn bộ Chương trình; với chỉ tiêu đào tạo hàng năm khoảng 100 sinh viên. Loại hình đào tạo này chỉ phù hợp đối với viên chức làm công tác TBDH ở trường Tiểu học có quy mô loại 2, loại 3 (theo Thông tư 35).

– Trường Đại học sư phạn Hà Nội được Bộ GD&ĐT cấp mã ngành đào tạo (C65) trình độ Cao đẳng ngành Công nghệ thiết bị trường học tháng 12/2005. Chỉ tiêu đào tạo 60 sinh viên/năm, được thực hiện từ năm học 2006- 2007. Hầu như không năm nào đạt chỉ tiêu tuyển mã ngành này.

– Gần đây, một số trường CĐSP địa phương được Bộ GD&ĐT cho phép đào tạo ngành Thiết bị trường học trình độ Cao đẳng (Chương trình không đồng nhất với Chương trình được Bộ GD&ĐT phê duyệt cho ĐHSP) với chỉ tiêu hàng năm khoảng 100 sinh viên.

Như vậy, số lượng học sinh, sinh viên được đào tạo ngành Thiết bị trường học hàng năm khoảng 1.000 người. Nếu duy trì quy mô đào tạo như nói trên thì phải tổ chức đào tạo trong 30 năm mới đáp ứng nhu cầu.

Rõ ràng công tác đào tạo, bồi dưỡng nhóm nguồn nhân lực làm công tác TBDH trong hệ thống giáo dục phổ thông nói riêng và trong hệ thống giáo dục quốc dân nói chung đã trở thành một nhu cầu rất cấp thiết của GD&ĐT.

III. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT

1. Giải pháp đổi mới công tác quản lý của Bộ GD&ĐT:

1.1. Đối với các cơ sở đào tạo được giao nhiệm vụ tổ chức bồi dưỡng, cần được nhận xét, đánh giá hàng năm. Có hình thức động viên khuyến khích các cơ sở thực hiện tốt nhiệm vụ.

1.2. Bộ cần có giải pháp mạnh để nâng cao nhận thức của các cấp quản lý trung gian:

– Tổ chức các Hội nghị, Hội thảo, Diến đàn chuyên ngành nhằm khẳng định và làm rõ các văn bản QLNN của Bộ GD&ĐT và của liên Bộ nhằm làm cho các cơ quan quản lý cấp trung gian và CBQL cơ sở giáo dục thấy rõ vai trò của đội ngũ viên chức này trong phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục.

– Cục Nhà giáo và CBQL cơ sở giáo dục, chủ trì tổ chức các lớp thí điểm thực hiện Chương trình bồi dưỡng theo quyết định 74, để từ đó có kế hoạch chỉ đạo, bổ sung, sửa đổi Chương trình.

– Cục Nhà giáo và CBQL cơ sở giáo dục chủ trì tổ chức Hội thảo thường niên nhằm tạo môi trường cho các cơ sở trao đổi, học tập kinh nghiệm của nhau, thoả thuận liên kết tạo sức mạnh của cả khối.

– Cục Nhà giáo và CBQL cơ sở giáo dục chủ trì tổ chức xây dựng Chương trình bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho viên chức làm công tác thiết bị ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp (TCCN, CĐ, ĐH và dạy nghề)

2. Về chế độ, chính sách

2.1. Cục Nhà giáo và CBQL cơ sở giáo dục xây dựng đề án, kế hoạch trợ giúp về vật chất, kinh phí cho các cơ sở được Bộ giao nhiệm vụ; giúp các cơ sở có điều kiện tốt hơn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

2.2. Với vai trò và tầm quan trọng của người “viên chức làm công tác TBDH” Bộ GD&ĐT cần nghiên cứu đề xuất tên gọi của loại viên chức này là “Giáo viên thực hành” và họ cần được hưởng các chế độ, chính sách của một ngạch giáo viên mới- “Giáo viên thực hành” của hệ thống giáo dục quốc dân.

Hà Nội, ngày 28 tháng 6 năm 2012

Hỏi: Chế độ đối với nhân viên thiết bị trường học kiêm công tác thư viện

Chi tiết câu hỏi :

Tôi được tuyển dụng làm nhân viên thiết bị trường học tại trường Phổ thông Dân tộc bán trú. Theo Công văn số 9552/TCCB ngày 26/9/2003 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, người làm việc trong phòng thí nghiệm hóa, sinh, điện cao áp, thủ kho hóa chất được hưởng chế độ phụ cấp độc hại, nguy hiểm 0,2. Trường tôi cũng có các phòng thí nghiệm và kho hóa chất. Vậy tôi có được hưởng chế độ phụ cấp độc hại, nguy hiểm không? Tôi được phân công phụ trách thêm thư viện và y tế trường học thì tôi có được hưởng thêm chế độ gì không? Hiện nay, do thư viện hoạt động cả buổi tối nên nhà trường yêu cầu tôi làm việc cả tối. Xin hỏi nhà trường phân công như vậy có đúng quy định không, tôi có được nghỉ 2 ngày/tuần không?

Trả lời :

Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lào Cai trả lời vấn đề này như sau:

Do bà Nguyễn Thị Loan được tuyển dụng tại vị trí việc làm là nhân viên thiết bị trường học, nên bà thuộc đối tượng được vận dụng hưởng chế độ phụ cấp độc hại theo khoản 2 mục II Văn bản số 9552/TCCB ngày 26/9/2003 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc thực hiện chế độ phụ cấp độc hại, nguy hiểm cho cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong phòng thí nghiệm; Văn bản số 1475/SGD&ĐT-TCCB ngày 20/12/2010 của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lào Cai về việc hướng dẫn thực hiện một số chế độ phụ cấp, trợ cấp đối với cán bộ, giáo viên, nhân viên với mức 0,2 so với mức lương tối thiểu.

Trong trường hợp đơn vị không có đủ nhân lực tại các vị trí việc làm, bà Loan có thể được lãnh đạo đơn vị phân công kiêm nhiệm thêm các công tác khác (như nhân viên thư viện, y tế trường học), song bà chỉ được hưởng một loại phụ cấp công việc ở mức cao nhất. Trong trường hợp này, bà được hưởng mức phụ cấp là 0,2 so với mức lương tối thiểu.

Với đặc thù về mô hình nhà trường (Phổ thông Dân tộc bán trú), bà Loan có thể được lãnh đạo đơn vị phân công công tác vào các buổi tối, các ngày nghỉ hoặc ngoài giờ hành chính. Tuy nhiên, nếu thời gian làm việc của bà nhiều hơn 8 tiếng một ngày thì bà sẽ được thanh toán chế độ làm thêm giờ theo Điều 97 Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13.

Khoản 1, Điều 110 Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13 quy định: “Mỗi tuần, người lao động sẽ được bố trí nghỉ ít nhất 24 giờ liên tục…”, do đó các đối tượng là nhân viên thư viện, thiết bị, y tế đều được bố trí để nghỉ 2 ngày trong tuần. Việc nghỉ vào ngày nào trong tuần, thì lãnh đạo đơn vị sẽ căn cứ tình hình công tác tại đơn vị để trao đổi và quyết định cụ thể.

TAG: Trung cấp thư viện cấp tốc 7 tháng, chứng chỉ thiết bị  tại tphcm trường học 1 tháng, hoc trung cap thu vien cap toc, dao tao thu vien thiet bi truong hoc o dau, trung cap thu vien hoc nhanh o dau, hoc nganh thu vien o dau, đào tạo trung cấp thư viện, thiết bị tại tphcm trường học, thư viện, thiết bị trường học, thiet bi truong hoc, trung cấp thư viện học ở đâu, trung cap thu vien, trung cap thu vien thiet bi truong hoc, trung cấp thư viện thiết bị trường học, trung cấp thư viện học ở đâu, học trung cấp thư viện, hoc trung cap thu vien o dau, hoc trung cap nganh thong tin thu vien o dau, nganh thu vien thiet bi o truong nao, truong trung cap thiet bi truong hoc, tuyển sinh trung cấp thư viện, tuyển sinh trung cấp thiết bị trường học, lớp thư viện cho người đi làm, lop thu vien thiet bi cho nguoi thi cong chuc vien chuc, tuyen sinh trung cap thu vien, trung cap thiet bi truong hoc, hoc trung cấp thư viện ngoài giờ HC,Học trung cap o dau, học trung cấp ở đâu, học trung cấp thư viện ở đâu, học trung cấp thiết bị tại tphcm trường học ở đâu, hoc trung cap thu vien o dau, nen hoc trung cap thiet bi truong hoc o dau, nen hoc trung cap thu vien truong nao, can tim lop trung cap thu vien, can tim lop trung cap thu vien chinh quy, hoc trung cap thiet bi truong hoc, lop hoc toi trung cap, lớp trung cấp học tối, lop hoc ngoai gio HC trung cap, học thư viện thiết bị tại tphcm chính quy, lớp thư viện thiết bị tại tphcm 1 năm , văn bằng 2 thư viện thiết bị tại tphcm, học trung cấp thư viện tại tphcm, học trung cấp thiết bị tại tphcm, tuyển sinh trung cấp thư viện thiết bị tại tphcm, học trung cấp thư viện thiết bị tại tphcm ở đâu, học thư viện thiết bị tại tphcm như thế nào, học nhanh thư viện thiết bị tại tphcm, trường đào tạo trung cấp thư viện thiết bị tại tphcm, học trung cấp thư viện tại tphcm nhanh nhất, học thư viện thiết bị tại tphcm tốt nhất, đào tạo thư viện thiết bị tại tphcm quận thủ đức, trung cấp thiết bị tại tphcm, trung cấp thư viện thiết bị tại tphcm học t7 và cn, thư viện thiết bị tại tphcm học ngoài giờ hành chính, thư viện thiết bị tại tphcm cấp tốc, thư viện thiết bị tại tphcm thi công chức, thư viện thiết bị tại tphcm học 10 tháng, trung cấp thiết bị tphcm học 7 tháng.

 

Comments

comments